Giáo trình Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế
Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế bài tập 3 tiếp tục chương trình đào tạo trực tuyến lớp luyện thi HSK online miễn phí của Thạc sỹ Nguyễn Minh Vũ tại trung tâm tiếng Trung Royal City ChineMaster Quận Thanh Xuân Hà Nội. Bạn nào chưa xem các bài giảng trước thì xem ngay tại link dưới nhé.
Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế bài tập 1
Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế bài tập 2
Sau đây là nội dung chi tiết giáo án bài giảng hôm nay - Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế bài tập 3.
翟峰和妻子都是铁路工人,工作稳定、待遇不错。他们有房有车,从不用为生活发愁。可翟峰却不想一辈子过这样平静的生活。通过电视,翟峰迷上了帆船,他觉得帆船能带他撞开“世界之门”:只要有一艘船,就能航行在无边无际的海上,到任何自己想去的地方。
由于翟峰和妻子没有积蓄,于是卖房卖车,买下了一艘二手船,翟峰叫它“彩虹号”。出发前,翟峰自学了航海知识。然而,包括翟峰的父母,所有人都觉得,翟峰“疯了”。
2012年11月24日,辞了职的翟峰和妻子带着休学的女儿,第一次驾驶帆船出海了。白天,翟峰和妻子轮流驾船。女儿在船上看书、学习、画画儿。下午海面平静时,翟峰会和妻子下海游泳或者钓鱼。该吃饭时,妻子会给全家人做一顿美味的海鲜。
傍晚是一家人最舒适的时候。干完活儿,一家人坐在一起,用电脑看看电影,或者聊聊天儿。这样的生活,是翟峰盼望已久的。以前陆地上的夜晚,他们在各自的房间,一家人没有更多的交流。
中国有句老话,可上山,勿下海。美好的时刻过去后是一个个紧张的夜晚。一路上,翟峰一家经历了船身着火、漏水等大大小小十多次险情。他们最怕雷电交加的时刻,因为小船随时有可能被下一道闪电击到,一家三口只能紧紧拥抱在一起,希望闪电快快过去。
在经历了八个月、航行了4000多海里之后,翟峰一家终于回到了家。翟峰相信,一切只是开始,航海就是他人生道路上一段长长的台阶,通向他想要的未来。“我和太太想要看看这个时代、这个世界到底是什么样子。人生有选择,一切可改变”。下一站,他们想去澳洲和新西兰。等待今年11月的北风,北风南下之时,他们将再次出发。
Đáp án Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế bài tập 3
Trác Phong và vợ đều là công nhân đường sắt, công việc ổn định và đãi ngộ tốt. Họ có nhà có xe và không bao giờ phải lo lắng về cuộc sống. Nhưng Trác Phong không muốn sống cuộc sống bình yên như thế suốt đời. Qua truyền hình, Trác Phong mê mẩn thuyền buồm và cảm thấy nó có thể đưa anh ta mở ra “cánh cửa thế giới”: chỉ cần có một chiếc thuyền, anh ta có thể điều hướng đi trên biển mênh mông và đến bất kỳ nơi nào anh ta muốn.
Vì Trác Phong và vợ không có tiết kiệm, họ bán nhà bán xe và mua một chiếc thuyền cũ, Trác Phong gọi nó là “Rainbow”. Trước khi khởi hành, Trác Phong tự học kiến thức hàng hải. Tuy nhiên, bao gồm cha mẹ của Trác Phong, tất cả mọi người đều cho rằng Trác Phong “điên”.
Ngày 24 tháng 11 năm 2012, Trác Phong từ chức và vợ anh ta cùng con gái đang nghỉ học lần đầu tiên lái thuyền ra biển. Ban ngày, Trác Phong và vợ luân phiên lái thuyền. Con gái đọc sách, học tập và vẽ tranh trên thuyền. Khi biển êm vào buổi chiều, Trác Phong sẽ đi bơi hoặc câu cá cùng vợ. Khi đến giờ ăn, vợ sẽ nấu một bữa ăn hải sản ngon miệng cho cả gia đình.
Buổi tối là thời gian thoải mái nhất của cả gia đình. Sau khi hoàn thành công việc, cả gia đình ngồi lại với nhau, xem phim trên máy tính hoặc trò chuyện. Cuộc sống như thế là điều Trác Phong mong đợi từ lâu. Trước đây vào buổi tối trên đất liền, họ ở trong phòng riêng và không có nhiều giao tiếp với nhau.
Trung Quốc có câu nói cổ: có thể lên núi, không nên xuống biển. Sau những khoảnh khắc tuyệt vời là những đêm căng thẳng. Trên đường đi, gia đình Trác Phong đã trải qua hơn mười tình huống nguy hiểm lớn nhỏ như cháy tàu, rò rỉ nước. Họ sợ nhất là lúc sấm sét đan xen vì chiếc thuyền nhỏ có thể bị sét đánh bất cứ lúc nào, ba người trong gia đình chỉ có thể ôm chặt nhau và hy vọng sét sẽ qua nhanh.
Sau khi trải qua tám tháng và điều hướng hơn 4000 hải lý, gia đình Trác Phong cuối cùng đã trở về nhà. Trác Phong tin rằng mọi thứ chỉ mới bắt đầu, hàng hải chỉ là một bậc thang dài trên con đường đời của anh ta, dẫn đến tương lai mà anh ta muốn. “Tôi và vợ muốn xem thời đại này và thế giới này trông như thế nào. Cuộc sống có sự lựa chọn, mọi thứ có thể thay đổi.” Trạm tiếp theo, họ muốn đi Úc và New Zealand. Đợi gió bắc vào tháng 11 năm nay, khi gió Bắc xuống phía Nam, họ sẽ lại lên đường.
Chú thích phiên âm cho Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế bài tập 3
Dí fēng hé qīzi dōu shì tiělù gōngrén, gōngzuò wěndìng, dàiyù bùcuò. Tāmen yǒu fáng yǒu chē, cóng bùyòng wéi shēnghuó fāchóu. Kě dí fēng què bùxiǎng yībèiziguò zhèyàng píngjìng de shēnghuó. Tōngguò diànshì, dí fēng mí shàngle fānchuán, tā juédé fānchuán néng dài tā zhuàng kāi “shìjiè zhī mén”: Zhǐyào yǒuyī sōu chuán, jiù néng hángxíng zài wúbiān wújì dì hǎishàng, dào rènhé zìjǐ xiǎng qù dì dìfāng.
Yóuyú dí fēng hé qīzi méiyǒu jīxù, yúshì màifáng mài chē, mǎi xiàle yī sōu èrshǒu chuán, dí fēng jiào tā “cǎihóng hào”. Chūfā qián, dí fēng zìxuéle hánghǎi zhīshì. Rán'ér, bāokuò dí fēng de fùmǔ, suǒyǒu rén dōu juédé, dí fēng “fēngle”.
2012 Nián 11 yuè 24 rì, cíle zhí de dí fēng hé qīzi dàizhe xiūxué de nǚ'ér, dì yī cì jiàshǐ fānchuán chūhǎile. Báitiān, dí fēng hé qīzi lúnliú jià chuán. Nǚ'ér zài chuánshàng kànshū, xuéxí, huà huà er. Xiàwǔ hǎimiàn píngjìng shí, dí fēnghuì hé qīzi xiàhǎi yóuyǒng huòzhě diàoyú. Gāi chīfàn shí, qīzi huì gěi quánjiā rén zuò yī dùn měiwèi dì hǎixiān.
Bàngwǎn shì yījiā rén zuì shūshì de shíhòu. Gàn wán huó er, yījiā rén zuò zài yīqǐ, yòng diànnǎo kàn kàn diànyǐng, huòzhě liáo liáotiān er. Zhèyàng de shēnghuó, shì dí fēng pànwàng yǐ jiǔ de. Yǐqián lùdì shàng de yèwǎn, tāmen zài gèzì de fángjiān, yījiā rén méiyǒu gèng duō de jiāoliú.
Zhōngguó yǒu jù lǎohuà, kě shàngshān, wù xiàhǎi. Měihǎo de shíkè guòqù hòu shì yīgè gè jǐnzhāng de yèwǎn. Yī lùshàng, dí fēng yījiā jīnglìle chuán shēn zháohuǒ, lòushuǐ děng dà dàxiǎo xiǎo shí duō cì xiǎnqíng. Tāmen zuì pà léidiàn jiāojiā de shíkè, yīnwèi xiǎochuán suíshí yǒu kěnéng bèi xià yīdào shǎndiàn jí dào, yījiā sānkǒu zhǐ néng jǐn jǐn yǒngbào zài yīqǐ, xīwàng shǎndiàn kuài kuài guòqù.
Zài jīnglìle bā gè yuè, hángxíngle 4000 duō hǎilǐ zhīhòu, dí fēng yījiā zhōngyú huí dàole jiā. Dí fēng xiāngxìn, yīqiè zhǐshì kāishǐ, hánghǎi jiùshì tā rénshēng dàolù shàng yīduàn zhǎng zhǎng de táijiē, tōng xiàng tā xiǎng yào de wèilái.“Wǒ hé tàitài xiǎng yào kàn kàn zhège shídài, zhège shìjiè dàodǐ shì shénme yàngzi. Rénshēng yǒu xuǎnzé, yīqiè kě gǎibiàn”. Xià yí zhàn, tāmen xiǎng qù àozhōu hé xīnxīlán. Děngdài jīnnián 11 yuè de běi fēng, běi fēng nánxià zhī shí, tāmen jiāng zàicì chūfā.