- Joined
- Oct 29, 2019
- Messages
- 11,836
- Reaction score
- 297
- Points
- 113
- Age
- 41
- Location
- Hà Nội
- Website
- chinemaster.com
Giáo trình Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế
Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế bài tập 7 tiếp tục chương trình đào tạo trực tuyến lớp luyện thi HSK online miễn phí của Thầy Vũ trên forum diễn đàn tiếng Trung của trung tâm tiếng Trung Royal City ChineMaster Quận Thanh Xuân Hà Nội. Trước hết, bạn nào chưa xem lại bài giảng cũ từ bài 1 đến bài 6 thì hãy nhanh chóng xem ngay ở trong các link dưới đây nhé.
Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế bài tập 1
Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế bài tập 2
Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế bài tập 3
Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế bài tập 4
Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế bài tập 5
Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế bài tập 6
Ngay sau đây chúng ta sẽ cùng đi vào phần chính của bài giảng hôm nay - Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế bài tập 7.
很久以前,有一个很有智慧的国王。一天,他让士兵们去找一头大象和一些出生时眼睛就瞎了的人回来。士兵们分别去不同地方寻找,把找到的大象和盲人带到他面前。
国王叫盲人们去摸一摸大象,问他们:“你们觉得大象是什么样的呢?”摸到牙齿的盲人说:“我觉得像一个角。”“胡说!”摸到尾巴的盲人说,“它像一条绳子。”摸到大象身子的盲人说:“我觉得像一面又高又平的墙。”“不,你们都错了,应该是像一把扇子。”这个盲人摸到了大象的耳朵。
国王笑了起来:“你们每个人都只摸到了一点,就认为自己了解全部了吗?只有片面的认识是不能下结论的。”
西汉时期有一位著名的将军叫李广,他善于骑马射箭,作战勇敢,被称为“飞将军”。一天傍晚,他正带着士兵们在山中打猎,忽然发现远处蹲着一只大老虎。士兵们都紧张地围了上来,想要保护他。李广摇摇头,表示不要紧。只见他从箭袋里取出一支箭,摆好姿势,全神贯注,用尽全力向老虎射去。
过了一会儿,老虎没什么反应,士兵们小心地走上前去,想确定它是不是死了。没想到仔细一看,被射中的竟不是老虎,而是一块形状很像老虎的大石头,而且一整支箭几乎全都射到石头中去了!大家都很吃惊,连李广自己都不相信他能有这么大的力气,于是他想再试试。可是,这次他连续换了几根箭,都没能再射进去,有的箭头碎了,有的箭杆断了,而大石头一点儿变化也没有。“哎,怎么会这样?”士兵奇怪地你看我,我看你。“唉!大概是我不够用心了吧!”李广也无奈地说。
人们对这件事情感到很不解,就去问当时最有影响力的学者扬雄。扬雄回答说:“如果诚心实意,即使像金属和石头那样硬的东西也会被打动。”“精诚所至,金石为开”这一成语也便由此流传下来。
Đáp án Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế bài tập 7
Trước đây rất lâu, có một vị vua rất thông minh. Một ngày nọ, ông sai binh lính đi tìm một con voi và một số người mù từ khi sinh ra. Binh lính đi đến những nơi khác nhau để tìm kiếm và đưa con voi và những người mù đến trước mặt vua.
Vua bảo những người mù sờ vào con voi và hỏi họ: “Các bạn nghĩ con voi trông như thế nào?” Người mù sờ vào răng của voi nói: “Tôi nghĩ nó giống như một cái sừng.” “Nói linh tinh!” Người mù sờ vào đuôi của voi nói, “Nó giống như một sợi dây.” Người mù sờ vào thân của voi nói: “Tôi nghĩ nó giống như một bức tường cao và phẳng.” “Không, các bạn đều sai rồi, nó phải giống như một chiếc quạt.” Người mù này sờ vào tai của voi.
Vua cười lên: “Mỗi người trong các ngươi chỉ sờ được một chút thôi, đã nghĩ mình hiểu hết rồi à? Chỉ có nhận thức một phần thì không thể đưa ra kết luận được.”
Thời kỳ Tây Hán có một vị tướng nổi tiếng tên là Lý Quảng, ông giỏi cưỡi ngựa bắn cung, chiến đấu dũng cảm và được gọi là “Tướng bay”. Một buổi chiều tối, ông đang dẫn binh lính đi săn trong núi, bỗng phát hiện một con hổ lớn đang ngồi ở xa. Binh lính đều lo lắng bao vây lại muốn bảo vệ ông. Lý Quảng lắc đầu cho biết không sao. Chỉ thấy ông lấy một mũi tên ra từ túi tên, sắp đặt tư thế, tập trung cao độ, dùng hết sức lực bắn vào con hổ.
Một lúc sau, con hổ không có phản ứng gì, binh lính cẩn thận tiến lại muốn xác định xem nó có chết không. Không ngờ nhìn kỹ lại, cái bị bắn trúng không phải là con hổ mà là một tảng đá lớn hình dạng rất giống con hổ và cả một mũi tên gần như đều bắn vào trong đá! Mọi người đều rất ngạc nhiên, ngay cả Lý Quảng cũng không tin rằng mình có sức mạnh lớn đến vậy nên ông muốn thử lại. Nhưng lần này ông liên tục thay đổi vài mũi tên nhưng đều không thể bắn vào được nữa, có mũi tên bị vỡ đầu, có cây tên bị gãy thân, còn tảng đá thì không hề thay đổi. “Ôi, sao lại như vậy?” Binh lính ngạc nhiên nhìn nhau. “Ôi! Có lẽ tôi không đủ chú tâm rồi!” Lý Quảng cũng nói một cách bất lực.
Mọi người cảm thấy rất bối rối về việc này nên đã đi hỏi học giả có ảnh hưởng nhất lúc bấy giờ là Dương Hùng. Dương Hùng trả lời: “Nếu thành tâm thật ý, thì ngay cả những thứ cứng như kim loại và đá cũng sẽ bị đả động.” Từ đó thành ngữ “Tình thành sở chí, kim thạch vi khai” cũng được truyền lại.
Chú thích: Thành ngữ “精诚所至,金石为开” có nghĩa là:
Cụm từ "精诚所至,金石为开" trong tiếng Trung có nghĩa là "Tâm tín chí thành, đá và vàng sẽ mở ra". Đây là một câu thành ngữ truyền thống trong văn hóa Trung Hoa và mang ý nghĩa sâu sắc.
Cụm từ này thể hiện ý niệm rằng nếu ta có lòng thành chân thành và tận tụy trong mọi việc làm, thì thậm chí những vật liệu khó khăn như đá và vàng cũng sẽ bị mở ra, tức là mọi khó khăn, trở ngại đều có thể được vượt qua.
"精诚所至" có nghĩa là sự thành tâm và chân thành. "金石为开" có nghĩa là đá và vàng sẽ mở ra hoặc cúi xuống. Cụm từ này biểu thị sự quyết tâm và lòng chân thành không chỉ có thể vượt qua mọi trở ngại mà còn có thể làm cho những điều không thể trở thành có thể.
Từ câu thành ngữ này, chúng ta có thể rút ra ý nghĩa rằng sự kiên trì, tận tụy và lòng thành chân thành trong cống hiến sẽ mở ra cơ hội và đạt được thành công, ngay cả trong những tình huống khó khăn và trái ngược.
Chú thích phiên âm tiếng Trung cho Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế bài tập 7
Hěnjiǔ yǐqián, yǒuyīgè hěn yǒu zhìhuì de guówáng. Yītiān, tā ràng shìbīngmen qù zhǎo yītóu dà xiàng hé yīxiē chūshēng shí yǎnjīng jiù xiāle de rén huílái. Shìbīngmen fēnbié qù bùtóng dìfāng xúnzhǎo, bǎ zhǎodào de dà xiàng hé mángrén dài dào tā miànqián.
Guówáng jiào mángrénmen qù mō yī mō dà xiàng, wèn tāmen:“Nǐmen juédé dà xiàng shì shénme yàng de ne?” Mō dào yáchǐ de mángrén shuō:“Wǒ juédé xiàng yīgè jiǎo.”“Húshuō!” Mō dào wěibā de mángrén shuō,“tā xiàng yītiáo shéngzi.” Mō dào dà xiàng shēnzi de mángrén shuō:“Wǒ juédé xiàng yīmiàn yòu gāoyòupíng de qiáng.”“Bù, nǐmen dōu cuòle, yīnggāi shì xiàng yī bǎ shànzi.” Zhège mángrén mō dàole dà xiàng de ěrduǒ.
Guówáng xiàole qǐlái:“Nǐmen měi gèrén dōu zhǐ mō dàole yīdiǎn, jiù rènwéi zìjǐ liǎojiě quánbùle ma? Zhǐyǒu piànmiàn de rènshí shì bùnéng xià jiélùn de.”
Xīhàn shíqí yǒu yī wèi zhùmíng de jiāngjūn jiào lǐ guǎng, tā shànyú qímǎ shèjiàn, zuòzhàn yǒnggǎn, bèi chēng wèi “fēi jiāngjūn”. Yītiān bàngwǎn, tā zhèng dàizhe shìbīngmen zài shānzhōng dǎliè, hūrán fāxiàn yuǎn chù dūnzhe yī zhǐ dà lǎohǔ. Shìbīngmen dōu jǐnzhāng de wéile shànglái, xiǎng yào bǎohù tā. Lǐguǎngyáo yáotóu, biǎoshì bùyàojǐn. Zhǐ jiàn tā cóng jiàn dài lǐ qǔchū yī zhī jiàn, bǎihǎo zīshì, quánshénguànzhù, yòng jìn quánlì xiàng lǎohǔ shè qù.
Guò le yīhuǐ'er, lǎohǔ méishénme fǎnyìng, shìbīngmen xiǎoxīn dì zǒu shàng qián qù, xiǎng quèdìng tā shì bùshì sǐle. Méi xiǎngdào zǐxì yī kàn, bèi shè zhòng de jìng bùshì lǎohǔ, ér shì yīkuài xíngzhuàng hěn xiàng lǎohǔ de dà shítou, érqiě yī zhěng zhī jiàn jīhū quándōu shè dào shítou zhōng qùle! Dàjiā dōu hěn chījīng, lián lǐ guǎng zìjǐ dōu bù xiāngxìn tā néng yǒu zhème dà de lìqì, yúshì tā xiǎng zài shì shì. Kěshì, zhè cì tā liánxù huànle jǐ gēn jiàn, dōu méi néng zài shè jìnqù, yǒu de jiàntóu suìle, yǒu de jiàn gǎn duànle, ér dà shítou yīdiǎn er biànhuà yě méiyǒu.“Āi, zěnme huì zhèyàng?” Shìbīng qíguài de nǐ kàn wǒ, wǒ kàn nǐ.“Āi! Dàgài shì wǒ bùgòu yòngxīnle ba!” Lǐ guǎng yě wúnài de shuō.
Rénmen duì zhè jiàn shìqíng gǎndào hěn bù jiě, jiù qù wèn dāngshí zuì yǒu yǐngxiǎng lì de xuézhě yáng xióng. Yáng xióng huídá shuō:“Rúguǒ chéngxīn shíyì, jíshǐ xiàng jīnshǔ hé shítou nàyàng yìng de dōngxī yě huì bèi dǎdòng.”“Jīngchéng suǒ zhì, jīnshí wéi kāi” zhè yī chéngyǔ yě biàn yóu cǐ liúchuán xiàlái.