Giáo trình Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế
Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế bài tập 8 tiếp tục lộ trình giảng dạy và đào tạo trực tuyến khóa học tiếng Trung online chuyên đề luyện thi HSK online miễn phí của Thạc sỹ Nguyễn Minh Vũ tại trung tâm tiếng Trung Royal City ChineMaster Quận Thanh Xuân Hà Nội. Trước khi học sang kiến thức mới thì các bạn hãy mau chóng ôn tập lại nhanh chóng toàn bộ trọng điểm kiến thức từ bài giảng 1 đến bài giảng 7 trong các link dưới đây nhé.
Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế bài tập 1
Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế bài tập 2
Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế bài tập 3
Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế bài tập 4
Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế bài tập 5
Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế bài tập 6
Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế bài tập 7
Sau đây chúng ta sẽ cùng đi vào phần chính của giáo án bài giảng hôm nay - Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế bài tập 8.
成语是汉语中非常有特点的一部分词汇。成语有固定的结构,不能随便更改;意义是整体性的,不是每个字意思的简单相加,而是综合起来表达一个完整的意思。
一般来说,成语的意义也是稳定的,很少发生变化,比如我们学过的“盲人摸象”和“精诚所至,金石为开”。但也有古今不同的,像我们今天要学习的“朝三暮四”。
中国古代有一位哲学家,在他的书中讲了这样一个寓言故事:
从前有位老人,喂养了一群猴子当宠物。相处久了,彼此居然可以从表情、声音和行为举止中了解对方的意思。
猴子太多,每天要吃大量的瓜果、蔬菜和粮食。然而,一个普通的家庭,财产不多,哪有那么大的财力满足一群猴子对食物的长期需要呢?老人甚至必须减少家人的消费,好节省些食物拿去喂养猴子。他注意到该限制猴子的食量了。问题是,猴子不像猪、狗,吃不饱时仅仅只是叫叫,它们如果得不到好的待遇,就会像一群调皮的孩子,经常跟人淘气。
老人的朋友送给他很多橡子,这是一种猴子爱吃的果实。在其他粮食不足的情况下,用橡子喂猴子倒是个办法。于是老人对猴子们说:“今后你们除了吃馒头,还可以再吃一些橡子。我早上给你们三颗,晚上给四颗。”猴子们似乎只弄懂了主人前面说的一个“三”,觉得自己吃了亏,一个个立起身子跳来跳去,对着老人大喊大叫地发脾气。老人见猴子们不接受,就换了一种方式,安慰它们说道:“要不这样吧,既然你们觉得少,那就改成每天早上四颗,晚上三颗,这样总够了吧?”
猴子把主人前面说的一个“四”当成全天多得了的橡子,所以马上安静下来,显得格外开心。老人看着这情景,哈哈地笑了。
哲学家用这个故事告诉人们,不要太关心生死、得失,因为到最后我们会发现没有失去什么,也没有得到什么。不过,发展到今天,“朝三暮四”这个成语的意义已经完全改变了。你知道它现在是什么意思吗?
Đáp án Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế bài tập 8
Thành ngữ là một bộ phận từ vựng vô cùng có đặc điểm trong tiếng Trung. Thành ngữ có cấu trúc cố định, không thể thay đổi tùy ý; ý nghĩa của chúng là toàn diện, không phải là sự đơn giản cộng dồn ý nghĩa của từng chữ, mà là kết hợp lại để diễn đạt một ý nghĩa hoàn chỉnh.
Nhìn chung, ý nghĩa của thành ngữ cũng là ổn định và ít thay đổi, Ví dụ như chúng ta đã học qua thành ngữ "Mang nhân mô tượng" và Tinh thành sở chí, Kim thạch vi khai. Tuy nhiên, cũng có những thành ngữ khác nhau giữa xưa và nay, như "Triều tam mộ tứ".
Ở Trung Quốc cổ đại, có một nhà triết học đã kể một câu chuyện ngụ ngôn trong sách của ông ta:
Ngày xửa ngày xưa, có một người lão đã nuôi một đàn khỉ làm thú cưng. Sau thời gian sống chung, họ thậm chí có thể hiểu ý nghĩa của nhau thông qua biểu cảm, âm thanh và hành động.
Có quá nhiều con khỉ, hàng ngày phải ăn một lượng lớn trái cây, rau củ và lương thực. Tuy nhiên, một gia đình bình thường, tài sản không nhiều, làm sao có đủ tài chính để đáp ứng nhu cầu lâu dài về thức ăn của một đàn khỉ? Ngay cả việc giảm thiểu tiêu dùng của gia đình để tiết kiệm thức ăn cho khỉ cũng không đủ. Người lão nhận thấy rằng cần hạn chế lượng thức ăn của khỉ. Vấn đề là, khỉ không giống như lợn, chó, khi chúng không được no, chúng không chỉ kêu kêu mà chúng còn như một đám trẻ nghịch ngợm, thường hay quậy phá với con người.
Bạn của người lão đã tặng anh ta rất nhiều quả hạt dẻ, đó là một loại trái cây mà khỉ thích ăn. Trong tình hình thiếu thốn thức ăn khác, việc cho khỉ ăn hạt dẻ trở thành một giải pháp. Vì vậy, người lão nói với những con khỉ rằng: "Từ bây giờ, ngoài việc ăn bánh mì, các em còn có thể ăn thêm một số hạt dẻ. Sáng tôi sẽ cho các em ba quả, tối tôi sẽ cho các em bốn quả." Có vẻ như những con khỉ chỉ hiểu được một từ "ba" mà chủ nhân nói trước đó, và cảm thấy bị thiệt hại. Chúng nhảy lên và xuống, cùng nhau la hét và tức giận với người lão. Khi người lão thấy khỉ không chấp nhận, ông ta đã thay đổi cách tiếp cận và an ủi chúng bằng cách nói: "Nếu các em cảm thấy thiếu, thì để chúng ta thay đổi thành mỗi sáng bốn quả, mỗi tối ba quả, tổng cộng đủ phải không nhỉ?"
Những con khỉ đã hiểu sai từ "bốn" mà chủ nhân nói trước đó và coi đó như là tất cả số lượng hạt dẻ trong cả ngày, vì vậy chúng yên lặng lại và trở nên vô cùng vui mừng. Người lão nhìn thấy cảnh tượng này và cười ha hả.
Nhà triết học đã sử dụng câu chuyện này để khuyên mọi người không quá quan tâm đến sự sống chết, lợi hại hay thất bại, vì cuối cùng chúng ta sẽ nhận ra chẳng có gì bị mất đi và cũng không có gì đạt được. Tuy nhiên, đến ngày nay, ý nghĩa của thành ngữ "Triều tam mộ tứ" đã hoàn toàn thay đổi. Bạn có biết ý nghĩa hiện tại của nó là gì không?
Chú thích phiên âm tiếng Trung cho Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế bài tập 8
Chéngyǔ shì hànyǔ zhòng fēicháng yǒu tèdiǎn de yībùfèn cíhuì. Chéngyǔ yǒu gùdìng de jiégòu, bùnéng suíbiàn gēnggǎi; yìyì shì zhěngtǐ xìng de, bùshì měi gè zì yìsi de jiǎndān xiàng jiā, ér shì zònghé qǐlái biǎodá yīgè wánzhěng de yìsi.
Yībān lái shuō, chéngyǔ de yìyì yěshì wěndìng de, hěn shǎo fāshēng biànhuà, bǐrú wǒmen xuéguò de “mángrénmōxiàng” hé “jīngchéng suǒ zhì, jīnshí wéi kāi”. Dàn yěyǒu gǔjīn bùtóng de, xiàng wǒmen jīntiān yào xuéxí de “zhāosānmùsì”.
Zhōngguó gǔdài yǒuyī wèi zhéxué jiā, zài tā de shū zhōng jiǎngle zhèyàng yīgè yùyán gùshì:
Cóngqián yǒu wèi lǎorén, wèiyǎngle yīqún hóuzi dāng chǒngwù. Xiāngchǔ jiǔle, bǐcǐ jūrán kěyǐ cóng biǎoqíng, shēngyīn hé xíngwéi jǔzhǐ zhōng liǎojiě duìfāng de yìsi.
Hóuzi tài duō, měitiān yào chī dàliàng de guā guǒ, shūcài hé liángshí. Rán'ér, yīgè pǔtōng de jiātíng, cáichǎn bù duō, nǎ yǒu nàme dà de cáilì mǎnzú yīqún hóuzi duì shíwù de cháng qī xūyào ne? Lǎorén shènzhì bìxū jiǎnshǎo jiārén de xiāofèi, hǎo jiéshěng xiē shíwù ná qù wèiyǎng hóuzi. Tā zhùyì dào gāi xiànzhì hóuzi de shíliàngle. Wèntí shì, hóuzi bù xiàng zhū, gǒu, chī bù bǎo shí jǐnjǐn zhǐshì jiào jiào, tāmen rúguǒ dé bù dào hǎo de dàiyù, jiù huì xiàng yīqún tiáopí de háizi, jīngcháng gēn rén táoqì.
Lǎorén de péngyǒu sòng gěi tā hěnduō xiàng zi, zhè shì yī zhǒng hóuzi ài chī de guǒshí. Zài qítā liángshí bùzú de qíngkuàng xià, yòng xiàng zi wèi hóuzi dǎoshì gè bànfǎ. Yúshì lǎorén duì hóuzimen shuō:“Jīnhòu nǐmen chúle chī mántou, hái kěyǐ zài chī yīxiē xiàng zi. Wǒ zǎoshang gěi nǐmen sān kē, wǎnshàng gěi sì kē.” Hóuzimen sìhū zhǐ nòng dǒngle zhǔrén qiánmiàn shuō de yīgè “sān”, juédé zìjǐ chīle kuī, yīgè gè lì qǐ shēnzi tiào lái tiào qù, duìzhe lǎorén dà hǎn dà jiào de fā píqì. Lǎorén jiàn hóuzimen bù jiēshòu, jiù huànle yī zhǒng fāngshì, ānwèi tāmen shuōdao:“Yào bù zhèyàng ba, jìrán nǐmen juédé shǎo, nà jiù gǎi chéng měitiān zǎoshang sì kē, wǎnshàng sān kē, zhèyàng zǒng gòule ba?”
Hóuzi bǎ zhǔrén qiánmiàn shuō de yīgè “sì” dàngchéng quán tiān duō dé le de xiàng zi, suǒyǐ mǎshàng ānjìng xiàlái, xiǎndé géwài kāixīn. Lǎorén kànzhe zhè qíngjǐng, hāhā de xiàole.
Zhéxué jiāyòng zhège gùshì gàosù rénmen, bùyào tài guānxīn shēngsǐ, déshī, yīnwèi dào zuìhòu wǒmen huì fāxiàn méiyǒu shīqù shénme, yě méiyǒu dédào shénme. Bùguò, fāzhǎn dào jīntiān,“zhāosānmùsì” zhège chéngyǔ de yìyì yǐjīng wánquán gǎibiànle. Nǐ zhīdào tā xiànzài shì shénme yìsi ma?