• Lịch khai giảng Tháng 12 năm 2025 tại địa chỉ Số 1 Ngõ 48 Phố Tô Vĩnh Diện Phường Khương Đình, Ngã Tư Sở, Hà Nội.
    » Lớp tiếng Trung HSK 123 và HSKK sơ cấp khai giảng ngày 8/12/2025, lịch học Thứ 2-4-6, thời gian học 18h-19h30 (0 chỗ)
    » Lớp tiếng Trung HSK 123 và HSKK sơ cấp khai giảng ngày 15/12/2025, lịch học Thứ 2-4-6, thời gian học 18h-19h30 (0 chỗ)
    » Lớp tiếng Trung HSK 123 và HSKK sơ cấp khai giảng ngày 22/12/2025, lịch học Thứ 2-4-6, thời gian học 18h-19h30 (0 chỗ)
    » Lớp tiếng Trung HSK 123 và HSKK sơ cấp khai giảng ngày 29/12/2025, lịch học Thứ 2-4-6, thời gian học 18h-19h30 (Còn 0 chỗ)
    » Lớp tiếng Trung cơ bản khai giảng ngày 9/12/2025, lịch học Thứ 3-5-7, thời gian học 18h-19h30 (Còn 1 chỗ)
    » Lớp tiếng Trung cơ bản khai giảng ngày 16/12/2025, lịch học Thứ 3-5-7, thời gian học 18h-19h30 (Còn 1 chỗ)
    » Lớp tiếng Trung cơ bản khai giảng ngày 23/12/2025, lịch học Thứ 3-5-7, thời gian học 18h-19h30 (Còn 1 chỗ)
    » Lớp tiếng Trung cơ bản khai giảng ngày 30/12/2025, lịch học Thứ 3-5-7, thời gian học 18h-19h30 (Còn 1 chỗ)
    » Học tiếng Trung online Thầy Vũ
    Video bài giảng Thầy Vũ livestream đào tạo trực tuyến

Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế bài tập 9

Giáo trình Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế


Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế bài tập 9 tiếp tục chương trình đào tạo trực tuyến chứng chỉ tiếng Trung HSK 5 theo lộ trình giảng dạy chuyên biệt của Thạc sỹ Nguyễn Minh Vũ tại trung tâm tiếng Trung Royal City ChineMaster Quận Thanh Xuân Hà Nội. Để có thể lĩnh hội được toàn bộ kiến thức trong bài giảng này, các bạn học viên cần nhanh chóng xem lại thật nhanh toàn bộ trọng điểm kiến thức từ bài giảng 1 đến bài giảng 8 trong các link dưới đây.

Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế bài tập 1

Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế bài tập 2

Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế bài tập 3

Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế bài tập 4

Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế bài tập 5

Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế bài tập 6

Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế bài tập 7

Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế bài tập 8

Bây giờ chúng ta sẽ đi vào phần chính của bài giảng hôm nay - Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế bài tập 9.

美食很大一部分是靠名人推动的,这一点在民国时期表现得尤其突出。例如著名的文学家鲁迅,在吃喝这件事上,就算是个地道的行家,不但会吃,还会亲自动手做,对许多美食都有独特的见解。这是近代新时尚。

北京是鲁迅长期生活过的城市,仅从这一时期鲁迅写作的日记中,我们发现他去过的知名餐馆就有65家,另外,他还很爱吃稻香村的点心。作为大作家、大学问家,鲁迅对吃很讲究,吃的内容在他的日记里占了很大一部分。在众多餐馆里,鲁迅去得最多、最喜欢的是广和居,平均每周都要去一次。

鲁迅经常到这家店的一个重要原因是距离近,广和居的大门就在他当时住的胡同的斜对面。位于菜市口附近的广和居是北京“八大居”之首,在民国时期非常出名。广和居算不上豪华,但却很适合朋友在这里聚会、热闹。这里特别欢迎文人的光临,为他们的聚会创造了很好的条件。广和居院里分成大小不同的各种房间,有一个人的,有三五人小聚的,也有十多个人大聚会的。这大大满足了鲁迅爱和朋友吃饭的要求。他爱好交际,大方好客,常呼朋唤友,多数是三五个人一起吃,有时甚至会直接让广和居送外卖到家里,在家招待朋友。当然最重要的还是因为广和居有鲁迅喜欢的菜。那里的菜既有高档的,也有适合普通百姓的,样样都让人有胃口。

鲁迅也爱喝酒,虽然明明知道自己有胃病,不应该喝酒,但却很难戒掉。他是每顿饭必喝酒的人。现在保存的历史资料记载,他和郁达夫一起喝酒的次数最多。鲁迅酒量不大,经常喝醉,而且在喝酒的过程中烟不离手。郁达夫在1933年曾经作诗形容他:“醉眼蒙眬上酒楼,彷徨呐喊两悠悠”,描写得十分形象。

Đáp án Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế bài tập 9

Món ăn ngon phần lớn được thúc đẩy bởi người nổi tiếng, điều này được thể hiện đặc biệt rõ ràng trong thời kỳ Dân Quốc. Ví dụ như nhà văn nổi tiếng Lỗ Tấn, trong việc ăn uống này, anh ta được coi là một chuyên gia đích thực, không chỉ biết ăn mà còn tự tay làm và có những quan điểm độc đáo về nhiều món ăn ngon. Đây là phong cách mới của thời đại hiện đại.

Bắc Kinh là thành phố mà Lỗ Tấn đã sống trong thời gian dài, chỉ từ những cuốn nhật ký mà ông viết trong thời kỳ này, chúng ta phát hiện ra rằng ông đã đến 65 nhà hàng nổi tiếng và ông còn rất thích ăn bánh ngọt của Đạo Hương Cư. Là một nhà văn lớn, một học giả lớn, Lỗ Tấn rất coi trọng việc ăn uống và nội dung ăn uống chiếm một phần lớn trong nhật ký của ông. Trong số nhiều nhà hàng, Quảng Hòa Cư là nơi Lỗ Tấn đến nhiều nhất và yêu thích nhất, trung bình mỗi tuần ông đều đến một lần.

Một trong những lý do quan trọng khiến Lỗ Tấn thường xuyên đến cửa hàng này là khoảng cách gần, cửa lớn của Quảng Hòa Cư nằm ngay đối diện ngõ hẻm mà ông ở vào thời điểm đó. Quảng Hòa Cư nằm gần Chợ Thực phẩm là đầu tiên trong “Tám Cư lớn” của Bắc Kinh và rất nổi tiếng trong thời kỳ Cộng hòa. Quảng Hòa Cư không phải là một nơi xa hoa nhưng rất thích hợp cho bạn bè tụ tập và ồn ào. Nơi đây đặc biệt chào đón sự hiện diện của những người viết văn và tạo ra điều kiện tốt cho cuộc họp của họ. Sân Quảng Hòa Cư được chia thành các phòng có kích thước khác nhau, có phòng cho một người, có phòng cho nhóm nhỏ ba năm người và cũng có phòng cho hội nghị lớn hơn mười người. Điều này đã đáp ứng yêu cầu của Lỗ Tấn rất thích ăn uống với bạn bè. Ông yêu thích giao tiếp, rộng lượng và hiếu khách, thường mời bạn bè đến chơi, hầu hết là ba năm người cùng ăn, đôi khi thậm chí sẽ trực tiếp yêu cầu Quảng Hòa Cư giao hàng tận nhà để tiếp đãi bạn bè tại nhà. Tất nhiên điều quan trọng nhất vẫn là vì Quảng Hòa Cư có những món ăn mà Lỗ Tấn yêu thích. Món ăn ở đó vừa có loại cao cấp vừa có loại phù hợp với người dân bình thường và tất cả đều khiến người ta thèm ăn.

Lỗ Tấn cũng thích uống rượu, mặc dù rõ ràng biết mình bị bệnh dạ dày và không nên uống rượu nhưng lại rất khó cai. Ông là người phải uống rượu mỗi bữa ăn. Theo tài liệu lịch sử hiện còn lưu giữ, số lần ông uống rượu cùng Uất Đạt Phụ là nhiều nhất. Lỗ Tấn không có nhiều rượu, thường xuyên say và trong quá trình uống rượu thì không bỏ thuốc lá. Uất Đạt Phụ đã từng viết thơ vào năm 1933 để miêu tả ông: “Mắt say mờ mịt lên lầu rượu, Lảng vảng than vãn hai giọt lo âu”, miêu tả rất sinh động.

Chú thích:

"醉眼蒙眬上酒楼,彷徨呐喊两悠悠" là hai câu thơ được lấy từ bài thơ "沁园春•长沙" của nhà thơ Tô Thức trong thời kỳ Đường. Dưới đây là sự dịch và giải thích chi tiết:

Dịch tiếng Việt: Mắt say mờ mịt lên lầu rượu, Lảng vảng than vãn hai giọt lo âu.

Giải thích: Câu thơ này miêu tả tâm trạng của người thơ khi say rượu, đi vào quán rượu và có tình trạng mờ mịt trong tầm nhìn. Từ "醉眼蒙眬" (say mắt mờ mịt) diễn tả trạng thái của người say rượu, khi đôi mắt mờ nhòe và không rõ ràng. Câu thơ tiếp theo "彷徨呐喊两悠悠" (đi lang thang, kêu gào không ngớt) diễn tả sự bối rối và than vãn của người thơ trong tâm trạng say sưa. Từ "彷徨" (đi lang thang, lảng vảng) biểu thị sự lạc lõng, không biết nên làm gì, và "呐喊" (kêu gào) diễn tả sự phản ánh cảm xúc sôi động, hồi hộp. "两悠悠" (hai giọt âu lo) biểu thị sự lững lờ, không vững chãi.

Đoạn thơ này miêu tả tâm trạng của nhà thơ khi say rượu, bước vào quán rượu và có tình trạng mờ mịt trong tầm nhìn. Cụm từ "Đi lang thang" (彷徨) diễn tả sự lạc lõng, không biết nên làm gì, và "Than vãn" (呐喊) diễn tả sự phản ánh cảm xúc sôi động, hồi hộp. Hai giọt lo lắng (两悠悠) biểu thị sự lo lắng và suy nghĩ không thôi trong tâm trạng của nhà thơ.

Câu thơ này nhấn mạnh tâm trạng mơ màng, bối rối và những suy nghĩ lo lắng trong lúc say sưa và lạc lõng. Nó thể hiện sự đối lập giữa cảm giác thăng hoa của say rượu và tình trạng tâm lý không ổn định. Đồng thời, câu thơ cũng mang ý nghĩa về sự khao khát tự do, nhưng đồng thời gợi lên ý suy ngẫm về sự thoáng qua, không thực sự tìm được niềm vui và sự an ủi từ việc trốn tránh và lạc vào say đắm.

Chú thích phiên âm tiếng Trung cho Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK 5 ứng dụng thực tế bài tập 9

Měishí hěn dà yībùfèn shì kào míngrén tuīdòng de, zhè yīdiǎn zài mínguó shíqí biǎoxiàn dé yóuqí túchū. Lìrú zhùmíng de wénxué jiā lǔxùn, zài chīhē zhè jiàn shì shàng, jiùsuàn shìgè dìdào de hángjiā, bùdàn huì chī, hái huì qīnzì dòngshǒu zuò, duì xǔduō měishí dōu yǒu dútè de jiànjiě. Zhè shì jìndài xīn shíshàng.

Běijīng shì lǔxùn chángqí shēnghuóguò de chéngshì, jǐn cóng zhè yī shíqí lǔxùn xiězuò de rìjì zhōng, wǒmen fāxiàn tā qùguò de zhīmíng cānguǎn jiù yǒu 65 jiā, lìngwài, tā hái hěn ài chī dàoxiāngcūn de diǎnxīn. Zuòwéi dà zuòjiā, dà xuéwèn jiā, lǔxùn duì chī hěn jiǎngjiù, chī de nèiróng zài tā de rìjì lǐ zhànle hěn dà yībùfèn. Zài zhòngduō cānguǎn lǐ, lǔxùn qù dé zuìduō, zuì xǐhuān de shì guǎng hé jū, píngjūn měi zhōu dōu yào qù yīcì.

Lǔxùn jīngcháng dào zhè jiā diàn de yīgè zhòngyào yuányīn shì jùlí jìn, guǎng hé jū de dàmén jiù zài tā dāngshí zhù de hútòng de xié duìmiàn. Wèiyú càishì kǒu fùjìn de guǎng hé jū shì běijīng “bādà jū” zhī shǒu, zài mínguó shíqí fēicháng chūmíng. Guǎng hé jū suàn bù shàng háohuá, dàn què hěn shìhé péngyǒu zài zhèlǐ jùhuì, rènào. Zhèlǐ tèbié huānyíng wénrén de guānglín, wèi tāmen de jùhuì chuàngzàole hěn hǎo de tiáojiàn. Guǎng hé jū yuàn lǐ fēnchéng dàxiǎo bùtóng de gè zhǒng fángjiān, yǒuyī gèrén de, yǒu sānwǔ rén xiǎo jù de, yěyǒushí duō gèrén dà jùhuì de. Zhè dàdà mǎnzúle lǔxùn ài hé péngyǒu chīfàn de yāoqiú. Tā àihào jiāojì, dàfāng hàokè, cháng hū péng huàn yǒu, duōshù shì sānwǔ gèrén yīqǐ chī, yǒu shí shènzhì huì zhíjiē ràng guǎng hé jū sòng wàimài dào jiālǐ, zàijiā zhāodài péngyǒu. Dāngrán zuì zhòngyào de háishì yīnwèi guǎng hé jū yǒu lǔxùn xǐhuān de cài. Nàlǐ de cài jì yǒu gāodàng de, yěyǒu shìhé pǔtōng bǎixìng de, yàng yàng dōu ràng rén yǒu wèikǒu.

Lǔxùn yě ài hējiǔ, suīrán míngmíng zhīdào zìjǐ yǒu wèibìng, bù yìng gāi hējiǔ, dàn què hěn nán jiè diào. Tā shì měi dùn fàn bì hējiǔ de rén. Xiànzài bǎocún de lìshǐ zīliào jìzǎi, tā hé yùdáfū yīqǐ hējiǔ de cìshù zuìduō. Lǔxùn jiǔliàng bù dà, jīngcháng hē zuì, érqiě zài hējiǔ de guòchéng zhōng yān bùlí shǒu. Yùdáfū zài 1933 nián céngjīng zuò shī xíngróng tā:“Zuìyǎn méng lóng shàng jiǔlóu, fǎnghuáng nàhǎn liǎng yōuyōu”, miáoxiě dé shífēn xíngxiàng.
 
Back
Top